Monday, August 22, 2005

Làng nghề Việt Nam và các giải pháp về môi trường


Sự khôi phục và phát triển của các làng nghề Việt Nam trong những năm gần đây có ý nghĩa tích cực về kinh tế - xã hội, đặc biệt trong tiến trình Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước. Tuy nhiên, vấn đề môi trường trong các làng nghề vẫn là một bài toán nan giải, cần giải quyết. Để khắc phục tình trạng này, Tiến sỹ Vũ Kim Tuyến Viện Khoa học Công nghệ Việt Nam đã nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp.

Hiện nay, trên toàn quốc có khoảng gần 1.500 làng nghề đang hoạt động với trên 100 nghề khác nhau, trong đó có khoảng trên 300 làng nghề truyền thống. Dựa vào sản phẩm và phương thức sản xuất, có thể chia ra làm 5 loại nghề như sau: Làng nghề sản xuất thủ công, làng nghề sản xuất công nghiệp, làng nghề chế biến lương thực - thực phẩm, làng nghề sản xuất và cung ứng nguyên vật liệu, làng nghề buôn bán - dịch vụ. Quy mô của các cơ sở sản xuất ở các làng nghề rất linh động, từ hộ gia đình đến các tổ hợp, các doanh nghiệp vừa và nhỏ, phát triển từ một vài gia đình, một làng nghề đến một vài xã, trong mỗi tỉnh có thể có rất nhiều loại làng nghề.

Số lượng thiết bị, công suất và mức sử dụng nguyên, nhiên vật liệu ở nhiều làng nghề tương đương với các khu công nghiệp lớn. Ví dụ: các làng nghề sản xuất sắt thép xây dựng ở xã Châu Khê (Bắc Ninh) với khoảng 3.000 - 4.000 nhân công, có sản lượng là 210.000 tấn/năm, gấp 2 lần sản lượng Nhà máy Gang thép Thái Nguyên (sản lượng 100.000 tấn với 13.000 cán bộ, công nhân - số liệu năm 1999); Riêng khu vực đồng bằng Bắc bộ có khoảng gần 20 làng nghề sử dụng vật liệu kim loại như vậy, nằm ở các tỉnh Hà Tây, Bắc Ninh, Hưng Yên, Nam Định... với hàng ngàn lò nấu thép trung tần, lò rèn; các làng sản xuất giấy Dương Ô, Châu Khê, Hạ Giang... (Bắc Ninh) có trên 100 xưởng sản xuất giấy các loại, tổng cộng sản xuất gần 60.000 tấn/năm; một số làng tái chế nhựa Hưng Yên có công suất hàng ngàn tấn sản phẩm/năm; các khu vực sản xuất vật liệu xây dựng gốm, sứ...

Hiện nay, tốc độ cải tiến công nghệ ở các làng nghề còn chậm, cầm chừng và không đồng bộ, vì mức độ đầu tư cho cải tiến công nghệ phụ thuộc vào khả năng của từng tổ hợp hoặc hộ gia đình, vào sự cân đối giữa mức đầu tư với giá trị sản phẩm trên thị trường, vào trình độ hoạt động kinh tế của người đầu tư sản xuất... các thiết bị bán tự động hoặc tự động được sử dụng trong dây chuyền sản xuất phần lớn đã cũ, không đồng bộ và nhiều thiết bị không còn đảm bảo các tiêu chuẩn kỹ thuật. Nhiều nơi, khoa học kỹ thuật và công nghiệp mới được thâm nhập vào làng nghề một cách tự phát, do các chủ sản xuất tự tìm hiểu và ứng dụng, thậm chí bằng cách truyền miệng mà không được tư vấn, hướng dẫn của các nhà chuyên môn, nên gây ra nhiều sự cố về chất lượng sản phẩm và môi trường.

Cùng với sự phát triển về quy mô, các vấn đề môi trường ở các làng nghề đang là mối lo ngại cho toàn xã hội. Hiện nay, hướng giải quyết những vấn đề môi trường trong các làng nghề đang gặp nhiều vướng mắc lớn. Các biện pháp tăng cường quản lý, kiểm soát chỉ đạt hiệu quả ở mức độ rất thấp, do các cơ sở sản xuất chỉ dùng các biện pháp tiêu cực (như nộp tiền phạt hoặc tạm thời ngừng phát thải vào thời điểm kiểm tra...) để đối phó với công luận và sự kiểm soát của các cơ quan quản lý. Ngay cả ở những làng nghề đã được cấp đất để di chuyển khu vực ra khỏi khu vực dân cư (như làng gốm Bát Tràng, sắt Đa Hội...) thì hiệu quả về môi trường cũng chưa cao, vì nhiều cơ sở sản xuất có nhu cầu di chuyển đến khu mới quy hoạch vì muốn mở thêm diện tích sản xuất. Điều này đồng nghĩa với sự gia tăng mức độ ô nhiễm. Các công nghệ và thiết bị bảo vệ môi trường chưa có trong các dây chuyền sản xuất. Một vài nơi thử áp dụng một số biện pháp xử lý chất thải, nhưng hiệu quả chưa cao, do điều kiện cơ sở hạ tầng của các làng nghề quá thấp kém và chi phí xử lý quá cao. Điều quan trọng hơn nữa là hầu hết các chủ sản xuất chưa sẵn sàng tự giác trong việc bảo vệ môi trường. Sản xuất thủ công là nguyên nhân làm tăng mức độ tác động tới môi trường.

Ở nhiều nơi, tình trạng ô nhiễm môi trường đã tới mức nghiêm trọng: môi trường vật lý, môi trường sinh thái - cảnh quan bị suy thoái nặng nề. Các khu vực dân cư, làng xã vừa là nơi sống, vừa là nơi sản xuất với các nhà xưởng tạm bợ, nguyên vật liệu và các loại chất thải đổ bừa bãi, các nhà ở mới, cũ và nhà xưởng chen nhau tạo nên một quang cảnh hỗn loạn và ô nhiễm, nhiều diện tích mặt nước, sông, kênh mương, đất canh tác, để dự phòng... đang bị các loại chất thải lấn dần và làm ô nhiễm...

Tình trạng phát thải bừa bãi với khối lượng lớn và thường xuyên đã gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng không nhỏ đến sức khoẻ cộng đồng.

Ở nhiều làng nghề, các nhà ở phải thường xuyên đóng cửa để giảm tác động của bụi, tiếng ồn, hơi hoá chất và các khí độc (làng sắt thép, đồ gỗ, sơn, giấy, nhựa...), các công trình công cộng như trường học, trạm xá, nhà trẻ... đều nằm trong khu vực ô nhiễm nặng...

Người lao động làm việc trong các điều kiện không an toàn, nhà xưởng hệ thống điện nước tạm bợ, các điều kiện chiếu sáng và thông gió kém, mặt bằng sản xuất chật chội, thời gian lao động quá dài (10 - 12 h/ngày) trong môi trường độc hại, điều kiện lao động nặng nhọc và hầu như không có các dụng cụ bảo hộ lao động...

Những điều kiện trên dẫn đến tình trạng gia tăng các tai nạn lao động, các bệnh nghề nghiệp (bệnh về đường hô hấp, bệnh ngoài da và một số bệnh hiểm nghèo khác). Ví dụ ở khu vực sản xuất sắt thép xã Châu Khê (Bắc Ninh) có trên 60% dân số trong xã (kể cả những người không tham gia sản xuất) mắc các bệnh liên quan đến sản xuất làng nghề. Trong 10 năm gần đây, tuổi thọ trung bình trong làng nghề thấp hơn hẳn các khu vực dân cư không có làng nghề.

Những tác động tiêu cực tới môi trường kinh tế - xã hội cũng đang trở thành những vấn đề bức xúc ở các khu vực này. Đó là sự gia tăng dân số cơ học; thay đổi cơ cấu lao động... kéo theo sự gia tăng các nhu cầu dịch vụ xã hội như y tế, giáo dục ... nảy sinh các vấn đề lớn trong việc sử dụng lao động, những biến động đột biến về thị trường nguyên liệu, hàng hoá và các vấn đề liên quan đến trật tự trị an khu vực, gây khó khăn trong quản lý xã hội và bảo vệ tài nguyên môi trường của các địa phương.

Nhiều làng nghề thu hút lao động từ các vùng lân cận và các tỉnh khác lên tới con số hàng ngàn người và con số này luôn biến động theo thời vụ và thị trường sản phẩm, khiến cho các cơ quan quản lý địa phương luôn ở trong tình trạng quá tải.

Sự phát triển của các làng nghề hầu hết mang tính tự phát và hoàn toàn chịu sự chi phối bởi các yếu tố thị trường, nguồn nguyên vật liệu. Thêm vào đó, những hạn chế về trình độ quản lý, trình độ lao động, dân trí, khả năng đầu tư, điều kiện cạnh tranh trên thị trường... đã làm tăng mức độ rủi ro trong sản xuất, kinh doanh, lãng phí vật tư, nguyên liệu, tài nguyên khoáng sản và ô nhiễm môi trường. Ở nhiều nơi, nhiều lúc, tác động tới môi trường đã đến mức báo động, thậm chí gây nguy hại đến người, gia súc, suy giảm hệ sinh thái khu vực như các vụ nổ lò nấu kim loại, nhiễm độc kim loại nặng, khí và hoá chất độc, tình trạng ô nhiễm hoàn toàn các nguồn nước trong khu vực... do thiếu trách nhiệm và kiến thức nghề nghiệp... Bên cạnh đó, những hạn chế trong cơ chế quản lý, ý thức và trách nhiệm của cộng đồng cũng là một trong những nguyên nhân chính cản trở việc thực hiện các biện pháp giảm thiểu tác động môi trường cũng như việc bảo đảm quyền lợi, sức khoẻ và tính mạng người lao động.

Rõ ràng, các vấn đề môi trường ở các làng nghề đang là yêu cầu cấp bách hiện nay và rất cần có những biện pháp quản lý và xử lý thích hợp.

Căn cứ vào đặc thù của các làng nghề Việt Nam, việc giải quyết các vấn đề môi trường ở các khu vực này cần tập trung vào 2 hướng giải pháp sau: Giải pháp công nghệ và tăng cường mạng lưới quản lý môi trường tới các khu vực sản xuất.

Giải pháp công nghệ nhằm giảm thiểu lượng phát thải bằng các biện pháp cải tiến công nghệ, nhằm sử dụng tiết kiệm và hợp lý các nguồn nguyên nhiên liệu, tài nguyên; áp dụng các biện pháp quản lý và xử lý chất thải phù hợp nhằm bảo vệ môi trường hiệu quả.

Để thực hiện tốt hướng này, các cơ quan quản lý về khoa học công nghệ, tài nguyên và môi trường các địa phương cần có kế hoạch trong việc hợp tác với các cơ quan nghiên cứu khoa học công nghệ của Trung ương để giải quyết những nhiệm vụ cụ thể ở địa phương mình, trong đó chú trọng tới cải tiến công nghệ sản xuất và áp dụng các công nghệ môi trường đơn giản, rẻ tiền, các biện pháp tuyên truyền và quản lý chặt chẽ, nhằm khuyến khích các hộ sản xuất tự nguyện sử dụng.

Cần ưu tiên các đối tượng cần xử lý theo thứ tự về mức độ bức xúc của các loại chất thải trong mỗi loại làng nghề để giải quyết nhanh những nguồn thải nguy hại nhất. Ví dụ năm 2001, Sở Khoa học công nghệ và môi trường tỉnh Bắc Ninh đã hợp tác với các chuyên gia Phòng Môi trường, Viện Khoa học Vật liệu thuộc Viện Khoa học công nghệ Việt Nam bước đầu xử lý khí thải (SO2 và bụi) từ các lò gạch thủ công rất hiệu quả. Đến nay, kết quả này được phổ biến áp dụng rộng rãi trên toàn tỉnh. Rất nhiều cơ sở sản xuất gạch ngói ở miền Bắc đang tiếp nhận công nghệ này.

Tăng cường mạng lưới quản lý môi trường tới các khu vự sản xuất tại các địa phương có làng nghề, cần tổ chức quản lý theo mô hình sau:

- Tăng cường công tác giáo dục cộng đồng, đặc biệt là các chủ sản xuất về trách nhiệm bảo vệ môi trường và tạo điều kiện thúc đẩy việc áp dụng công nghệ môi trường trong các hộ sản xuất; Phổ biến các nội dung cơ bản của luật bảo vệ môi trường và các nội dung cụ thể đối với ngành nghề tại địa phương tới các hộ sản xuất.

- Tổ chức đội bảo vệ môi trường từ cấp xã đến các làng nghề, hoạt động theo các quy định về môi trường do địa phương đề ra, trên cơ sở luật bảo vệ môi trường của Nhà nước và đã được thông báo cho các hộ sản xuất. Tiến hành thu lệ phí môi trường theo các hộ sản xuất; Các khoản thu lệ phí môi trường và xử phạt môi trường được sử dụng vào việc duy trì các hoạt động bảo vệ môi trường của địa phương.

- Kết hợp với các cơ quan quản lý Nhà nước các cấp, tiến hành xử phạt hành chính đối với các vi phạm về môi trường theo quy định trong Luật Bảo vệ môi trường; Tổ chức triển khai và kiểm soát chặt chẽ ứng dụng công nghệ môi trường ở địa phương (kinh nghiệm của tỉnh Bắc Ninh 2002 trong xử lý thải lò gạch thủ công). Tìm cách di chuyển làng nghề ra khỏi khu vực dân cư, hoàn phục và cải tạo cảnh quan làng xã. Từ đó đẩy mạnh sự phát triển bền vững, cân bằng của kinh tế làng nghề, một mô hình quản lý kinh doanh "mềm" do mỗi hộ sản xuất đồng thời là một chủ kinh doanh có khả năng tổ chức sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, thu mua nguyên vật liệu trên quy mô lớn với cách quản lý linh động. Có thể nói, đây là mô hình kinh tế lý tưởng đối với một nước đang phát triển như nước ta.

(Nguồn: TCCN)